Nguyên tắc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào 2017 theo TT 219
Theo Điều 14 Thông tư 219/2013/TT- BTC của Bộ tài chính: Quy định
về nguyên tắc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào cụ thể như sau:
1. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế
GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hoá chịu thuế GTGT bị tổn thất.
Các trường hợp tổn thất không
được bồi thường được khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm: thiên tai, hoả hoạn, các
trường hợp tổn thất không được bảo hiểm bồi thường, hàng hoá mất phẩm chất, quá
hạn sử dụng phải tiêu huỷ. Cơ sở kinh doanh phải có đầy đủ hồ sơ, tài liệu
chứng minh các trường hợp tổn thất không được bồi thường để khấu trừ thuế.
Trường hợp hàng hoá có
hao hụt tự nhiên do tính chất lý hoá trong quá trình vận chuyển, bơm rót như
xăng, dầu… thì được kê khai, khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của số lượng hàng
hoá thực tế hao hụt tự nhiên không vượt quá định mức hao hụt theo quy định.
Thuế GTGT đầu vào của
hàng hoá, dịch vụ hình thành tài sản cố định là nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca,
phòng thay quần áo, nhà để xe, nhà vệ sinh, bể nước phục vụ cho người lao động
trong khu vực sản xuất, kinh doanh và nhà ở, trạm y tế cho công nhân làm việc
trong các khu công nghiệp được khấu trừ toàn bộ.
Trường hợp nhà ở cho
công nhân làm việc trong các khu công nghiệp do cơ sở kinh doanh đi thuê thực
hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn thiết kế và giá cho thuê nhà ở
công nhân khu công nghiệp thì thuế GTGT đối với khoản tiền thuê nhà trong
trường hợp này được khấu trừ theo quy định. Trường hợp cơ sở kinh doanh xây
dựng hoặc mua nhà ở ngoài khu công nghiệp phục vụ cho công nhân làm việc trong
các khu công nghiệp, nhà xây dựng hoặc nhà mua thực hiện theo quy định của pháp
luật về tiêu chuẩn thiết kế nhà ở công nhân khu công nghiệp thì thuế GTGT của
nhà xây dựng, nhà mua phục vụ cho công nhân được khấu trừ toàn bộ.
Trường hợp cơ sở
kinh doanh có các chuyên gia nước ngoài sang Việt Nam công tác, giữ các chức vụ
quản lý tại Việt Nam, hưởng lương tại Việt Nam theo hợp đồng lao động ký với cơ
sở kinh doanh tại Việt Nam thì cơ sở kinh doanh không được khấu trừ thuế GTGT
của khoản tiền thuê nhà cho các chuyên gia nước ngoài này.
Trường hợp các chuyên
gia nước ngoài vẫn là nhân viên của doanh nghiệp ở nước ngoài, chịu sự điều
động của doanh nghiệp ở nước ngoài, được doanh nghiệp ở nước ngoài trả lương và
hưởng các chế độ của doanh nghiệp ở nước ngoài trong thời gian sang Việt Nam
công tác, giữa doanh nghiệp ở nước ngoài và cơ sở kinh doanh tại Việt Nam có
hợp đồng bằng văn bản nêu rõ doanh nghiệp tại Việt Nam phải chịu các chi phí về
chỗ ở cho các chuyên gia nước ngoài trong thời gian công tác ở Việt Nam thì
thuế GTGT của khoản tiền thuê nhà cho các chuyên gia nước ngoài làm việc tại
Việt Nam do cơ sở kinh doanh tại Việt Nam chi trả được khấu trừ.
2. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ (kể cả tài sản cố định) sử
dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không
chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng
hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Cơ
sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không
được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu
trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu của
hàng hoá, dịch vụ bán ra không hạch toán riêng được.
Cơ sở kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT hàng tháng tạm phân bổ số
thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ, tài sản cố định mua vào được khấu trừ trong
tháng, cuối năm cơ sở kinh doanh thực hiện tính phân bổ số thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ của năm để kê khai điều chỉnh thuế GTGT đầu vào đã tạm phân bổ
khấu trừ theo tháng.
3. Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định, máy móc, thiết bị, kể
cả thuế GTGT đầu vào của hoạt động đi thuê những tài sản, máy móc, thiết bị này
và thuế GTGT đầu vào khác liên quan đến tài sản, máy móc, thiết bị như bảo
hành, sửa chữa trong các trường hợp sau đây không được khấu trừ mà tính vào
nguyên giá của tài sản cố định hoặc chi phí được trừ theo quy định của Luật
thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành: Tài sản cố định
chuyên dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh; tài
sản cố định, máy móc, thiết bị của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh
doanh tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, cơ sở khám, chữa
bệnh, cơ sở đào tạo; tàu bay dân dụng, du thuyền không sử dụng cho mục đích
kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn.
Tài sản cố
định là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh
vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn) có trị giá vượt
trên 1,6 tỷ đồng (giá chưa có thuế GTGT) thì số thuế GTGT đầu vào tương ứng với
phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng không được khấu trừ.
4. Khấu trừ thuế GTGT trong một số trường hợp cụ thể như sau:
a) Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh tổ chức sản xuất khép kín, hạch toán tập
trung có sử dụng sản phẩm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT qua các khâu để
sản xuất ra mặt hàng chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT đầu vào tại các khâu được
khấu trừ toàn bộ.
Ví dụ: Doanh nghiệp X đầu tư
xây dựng vùng nguyên liệu và nhà máy để sản xuất, chế biến phi lê cá tra, cá ba
sa, tôm đông lạnh xuất khẩu. Doanh nghiệp tổ chức sản xuất khép kín từ khâu
nuôi trồng, kể cả trường hợp thuê gia công nuôi trồng mà doanh nghiệp đầu tư
toàn bộ giống, ao, hồ, hàng rào, hệ thống tưới tiêu, tàu thuyền và nguyên, vật
liệu đầu vào khác như thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, dịch vụ thú y, đến khâu
chế biến tôm, cá để xuất khẩu. Doanh nghiệp X được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT
đầu vào của tài sản cố định và của hàng hóa, dịch vụ mua vào không hình thành
tài sản cố định tại tất cả các khâu sản xuất, chế biến.
b) Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh có dự án đầu tư thực hiện đầu tư theo
nhiều giai đoạn, bao gồm cả cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thành lập, có phương
án sản xuất, kinh doanh tổ chức sản xuất khép kín, hạch toán tập trung và sử
dụng sản phẩm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT để sản xuất ra mặt hàng chịu
thuế GTGT nhưng trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản có cung cấp hàng hóa,
dịch vụ không chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT đầu vào trong giai đoạn đầu tư để
hình thành tài sản cố định được khấu trừ toàn bộ. Cơ sở kinh doanh phải hạch
toán riêng số thuế GTGT đầu vào không sử dụng cho đầu tư tài sản cố định phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT để
kê khai khấu trừ theo tỷ lệ (%) giữa doanh số chịu thuế GTGT so với tổng doanh
số hàng hoá, dịch vụ bán ra.
Đối với cơ sở kinh
doanh có dự án đầu tư để tiếp tục sản xuất, chế biến và có văn bản cam kết tiếp
tục sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT thì được kê khai, khấu trừ thuế GTGT ngay
từ giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản. Đối với thuế GTGT đầu vào phát sinh trong
giai đoạn đầu tư XDCB, doanh nghiệp đã kê khai, khấu trừ, hoàn thuế nhưng sau
đó xác định không đủ điều kiện, khấu trừ, hoàn thuế thì doanh nghiệp phải kê
khai, điều chỉnh nộp lại tiền thuế GTGT đã khấu trừ, hoàn thuế. Trường hợp
doanh nghiệp không thực hiện điều chỉnh, qua thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế
phát hiện ra thì cơ quan thuế sẽ thực hiện truy thu, truy hoàn và xử phạt theo
quy định. Doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về các
nội dung đã báo cáo, cam kết giải trình với cơ quan thuế liên quan đến việc
khấu trừ, hoàn thuế.
Trường hợp
cơ sở có bán hàng hóa là sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản chưa qua chế biến
hoặc mới qua sơ chế thông thường thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì số
thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh
số hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ
bán ra.
c) Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh có dự án đầu tư, bao gồm cả cơ sở sản
xuất, kinh doanh mới thành lập, vừa đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ không chịu thuế GTGT, vừa đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định trong giai đoạn
đầu tư xây dựng cơ bản được tạm khấu trừ theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu của hàng
hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hoá, dịch vụ bán ra
theo phương án sản xuất, kinh doanh của cơ sở kinh doanh. Số thuế tạm khấu trừ
được điều chỉnh theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
GTGT so với tổng doanh thu của hàng hoá, dịch vụ bán ra trong ba năm kể từ năm
đầu tiên có doanh thu.
Ví dụ : Doanh
nghiệp Z thành lập mới từ dự án đầu tư vào lĩnh vực vận tải. Phương án sản xuất
kinh doanh theo dự án đầu tư của doanh nghiệp có doanh thu từ vận chuyển hành
khách công cộng bằng xe buýt và không bằng xe buýt, từ bán quảng cáo và dịch vụ
sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện vận tải; trong đó doanh thu từ vận tải hành
khách công cộng bằng xe buýt chiếm tỷ trọng 30% tổng doanh thu của hàng hoá,
dịch vụ bán ra. Giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản mua sắm phương tiện, xây dựng
trạm chờ, nhà xưởng kéo dài trong 02 năm từ tháng 6/2014 đến tháng 5/2016.
Trong thời gian 02 năm này, số thuế giá trị gia tăng đầu vào của tài sản cố
định trong giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản và của hàng hóa, dịch vụ mua vào
phục vụ cho việc thành lập doanh nghiệp (chi phí thành lập doanh nghiệp) được
tạm khấu trừ theo tỷ lệ 70% và được hoàn thuế theo quy định (Riêng thuế GTGT
của tài sản cố định là xe ô tô đăng ký sử dụng làm xe buýt công cộng không khấu
trừ). Doanh nghiệp đi vào hoạt động có doanh thu từ tháng 6/2016. Đến hết tháng
5/2019, tỷ trọng doanh thu từ vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trong
thời gian 03 năm từ tháng 6 năm 2016 chiếm 35% tổng doanh thu của hàng hoá,
dịch vụ bán ra thì doanh nghiệp kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia
tăng của tài sản cố định đã được khấu trừ, hoàn thuế tương ứng với tỷ lệ
5% (= 70% - 65%) và tính nộp số điều chỉnh giảm khấu trừ, hoàn thuế này vào số
thuế GTGT của kỳ khai thuế tháng 5/2019. Doanh nghiệp không bị xử phạt chậm nộp
và không bị tính lãi chậm nộp đối với số thuế giá trị gia tăng của tài sản cố
định được khấu trừ phải điều chỉnh giảm.
5. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá mà doanh nghiệp sử dụng để cho, biếu,
tặng, khuyến mại, quảng cáo dưới các hình thức, phục vụ cho sản xuất
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ.
6. Số thuế GTGT đã nộp theo Quyết định ấn định thuế của
cơ quan hải quan được khấu trừ toàn bộ, trừ trường hợp cơ quan hải quan xử phạt
về gian lận, trốn thuế.
7. Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT hướng dẫn tại Điều 4
Thông tư này không được khấu trừ, trừ các trường hợp sau:
a) Thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ
mà cơ sở kinh doanh mua vào để sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp
cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế để viện trợ nhân đạo, viện trợ
không hoàn lại hướng dẫn tại khoản 19 Điều 4 Thông tư này được khấu trừ toàn
bộ;
b) Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ
sử dụng cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí đến ngày khai
thác đầu tiên hoặc ngày sản xuất đầu tiên được khấu trừ toàn bộ.
8. Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong kỳ nào được kê khai, khấu trừ khi
xác định số thuế phải nộp của kỳ đó, không phân biệt đã xuất dùng hay
còn để trong kho.
- Trường hợp cơ sở kinh doanh phát
hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sai sót thì được kê khai,
khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết
định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.
9. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh doanh
được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc tính vào
nguyên giá của tài sản cố định, trừ số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào
từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên không có chứng từ thanh toán
không dùng tiền mặt.
10. Văn phòng Tổng công ty, tập đoàn không trực tiếp hoạt động kinh
doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc như: Bệnh viện,
Trạm xá, Nhà nghỉ điều dưỡng, Viện, Trường đào tạo... không phải là người nộp
thuế GTGT thì không được khấu trừ hay hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch
vụ mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này.
Trường hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
GTGT thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT riêng cho các hoạt động này.
Ví dụ: Văn phòng Tổng công ty A không trực tiếp sản xuất, kinh
doanh, sử dụng kinh phí do các cơ sở trực thuộc đóng góp để hoạt động nhưng Văn
phòng Tổng công ty có cho thuê nhà (văn phòng) phần không sử dụng hết thì Văn
phòng Tổng công ty phải hạch toán, kê khai nộp thuế riêng cho hoạt động cho
thuê văn phòng. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho hoạt động
của Văn phòng Tổng công ty không được khấu trừ hay hoàn thuế.
11. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho các hoạt động
cung cấp hàng hoá, dịch vụ không kê khai, tính nộp thuế GTGT hướng dẫn
tại Điều 5 Thông tư này (trừ khoản 2, khoản 3 Điều 5) được khấu trừ toàn bộ.
12. Cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ thuế GTGT của hàng
hoá, dịch vụ mua vào dưới hình thức uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân khác mà hoá
đơn mang tên tổ chức, cá nhân được uỷ quyền bao gồm các trường hợp sau đây:
a) Doanh
nghiệp bảo hiểm ủy quyền cho người tham gia bảo hiểm sửa chữa tài sản; chi phí
sửa chữa tài sản cùng các vật tư, phụ tùng thay thế có hóa đơn GTGT ghi tên
người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện thanh toán cho người
tham gia bảo hiểm phí bảo hiểm tương ứng theo hợp đồng bảo hiểm thì doanh
nghiệp bảo hiểm được kê khai khấu trừ thuế GTGT tương ứng với phần bồi thường
bảo hiểm thanh toán theo hóa đơn GTGT đứng tên người tham gia bảo hiểm; trường
hợp phần bồi thường bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán cho người tham
gia bảo hiểm có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì phải thực hiện thanh toán
qua ngân hàng.
b) Trước khi
thành lập doanh nghiệp, các sáng lập viên có văn bản ủy quyền cho tổ chức, cá nhân
thực hiện chi hộ một số khoản chi phí liên quan đến việc thành lập doanh
nghiệp, mua sắm hàng hóa, vật tư thì doanh nghiệp được kê khai, khấu trừ thuế
GTGT đầu vào theo hóa đơn GTGT đứng tên tổ chức, cá nhân được ủy quyền và phải
thực hiện thanh toán cho tổ chức, cá nhân được ủy quyền qua ngân hàng đối với
những hóa đơn có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên.
13. Trường hợp cá nhân, tổ chức không kinh doanh có góp vốn
bằng tài sản vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thì chứng từ đối
với tài sản góp vốn là biên bản chứng nhận góp vốn, biên bản giao nhận tài sản.
Trường hợp tài sản góp vốn là tài sản mới mua, chưa sử dụng, có hoá đơn hợp
pháp được hội đồng giao nhận vốn góp chấp nhận thì trị giá vốn góp được xác
định theo trị giá ghi trên hoá đơn bao gồm cả thuế GTGT; Bên nhận vốn góp được
kê khai khấu trừ thuế GTGT ghi trên hoá đơn mua tài sản của bên góp vốn.
14. Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính
trực tiếp trên giá trị gia tăng khi chuyển sang nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ thuế được khấu trừ thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ
mua vào phát sinh kể từ kỳ đầu tiên kê khai, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
thuế.
Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế
khi chuyển sang nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
được tính số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh
trong thời gian nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế mà chưa khấu trừ hết
vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ
số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh trong thời
gian nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được hoàn theo hướng dẫn tại Điều
18 Thông tư này và theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực
trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
Ví dụ : Công ty TNHH A đang
áp dụng phương pháp khấu trừ thuế trong năm 2014, năm 2015 và không đủ điều
kiện để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế từ ngày 1/1/2016. Công ty TNHH A đã
có hồ sơ đề nghị hoàn thuế gửi cơ quan thuế từ kỳ tính thuế tháng 11/2014 đến
hết kỳ tính thuế tháng 10/2015 (kết thúc thời điểm xác định doanh thu để xác
định phương pháp tính thuế của năm 2016 và năm 2017), số thuế đề nghị hoàn là
350 triệu đồng và trên tờ khai thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng 11/2015, Công
ty TNHH A có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ là 50 triệu đồng. Công ty TNHH
A được cơ quan thuế xem xét giải quyết hoàn thuế theo quy định đối với hồ sơ đề
nghị hoàn thuế đã gửi cơ quan thuế (số thuế đề nghị hoàn là 350 triệu đồng); số
thuế đầu vào chưa được khấu trừ trên tờ khai thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng
11/2015 là 50 triệu đồng được tiếp tục kết chuyển sang kỳ tính thuế tháng
12/2015. Trường hợp tại Tờ khai thuế GTGT của kỳ tính thuế tháng 12/2015, Công
ty còn số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ thì tính vào chi phí được trừ
khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
15. Cơ sở kinh doanh không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với
trường hợp:
- Hoá đơn GTGT sử dụng không đúng quy định của pháp luật như: hóa đơn GTGT
không ghi thuế GTGT (trừ trường hợp đặc thù được dùng hoá đơn GTGT ghi giá
thanh toán là giá đã có thuế GTGT);
- Hoá đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa
chỉ, mã số thuế của người bán nên không xác định được người bán;
- Hoá đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa
chỉ, mã số thuế của người mua nên không xác định được người mua (trừ trường hợp
hướng dẫn tại khoản 12 Điều này);
- Hóa đơn, chứng từ nộp thuế GTGT giả, hóa đơn bị tẩy xóa, hóa đơn khống (không
có hàng hóa, dịch vụ kèm theo);
- Hóa đơn ghi giá trị không đúng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ mua, bán
hoặc trao đổi.
16. Các trường hợp đặc thù khác thực hiện theo hướng dẫn riêng của
Bộ Tài chính.
Xem thêm: Điều kiện khấu trừ
thuế GTGT đầu vào
Tags:
Thuế Giá Trị Gia Tăng